TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ TRONG SẠCH VỮNG MẠNH; PHÁT HUY MẠNH MẼ NGUỒN LỰC TRÍ TUỆ; ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO, ĐỘT PHÁ TRONG THAM MƯU VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ, GÓP PHẦN XÂY DỰNG THỪA THIÊN HUẾ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG, TRỞ THÀNH THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
Đăng nhập hệ thống
Kiểu đăng nhập:
Người dùng:
Mật khẩu:
Tìm kiếm
Thống kê truy cập
Tổng lượt truy câp 8.020.259
Truy câp hiện tại 113
Chủ tịch Hồ Chí Minh với quá trình xác lập mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước kiểu mới ở Việt Nam
Ngày cập nhật 02/11/2016

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, bằng việc thông qua bản Hiến pháp năm 1946, một mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm chính trị của đất nước đã được thiết lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đứng đầu Ủy ban khởi thảo Hiến pháp đã kế thừa những tư tưởng văn minh, tiến bộ về lập pháp của nhân loại để hiến định mô hình tổ chức này - một mô hình hữu hiệu, vẫn còn nguyên giá trị đối với việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay.

Chính quyền nhà nước nói chung là mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất của tất cả những cuộc cách mạng vô sản. Tuy nhiên, giành chính quyền không phải là nhiệm vụ duy nhất của một cuộc cách mạng. Ngay sau đó, còn một nhiệm vụ quan trọng khác cần được thực hiện là: giữ chính quyền. Nhiệm vụ đó được tiến hành bằng cách thiết lập quyền lực nhà nước và tổ chức thực hiện quyền lực này. Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của chính quyền nhà nước đối với cách mạng, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin nhấn mạnh đến tâm điểm của cuộc cách mạng vô sản như V.I. Lê-nin từng nói: Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Từ tâm điểm này, đặt ra những vấn đề khác, trong đó có vấn đề về cách thức tổ chức chính quyền nhà nước. Chính quyền, với những quyền năng đặc biệt của nó, phải được xác lập, tổ chức trên cơ sở phù hợp với điều kiện cầm quyền của giai cấp vô sản.

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về cách mạng và chính quyền cách mạng, sau hơn 30 năm đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chính quyền nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo vào thực tiễn ở nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong thời kỳ Việt Nam nằm dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Đó là một thời kỳ vô cùng bi thương của cả dân tộc: nước mất, nhà tan, nhân dân cực khổ, lầm than dưới ách thống trị của chính quyền thực dân Pháp. Việt Nam là một dân tộc có ý chí quật cường và truyền thống chống giặc ngoại xâm, cho nên, trong thời kỳ này, nhiều phong trào cách mạng do các nhân sĩ yêu nước lãnh đạo nhằm chống lại ách thống trị của thực dân Pháp đã liên tiếp diễn ra. Do nhiều nguyên nhân khác nhau nên các phong trào này đều lần lượt bị thất bại. Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tên thường gọi thời trẻ là Nguyễn Tất Thành, tuy còn ít tuổi nhưng đã sớm có tinh thần yêu nước và ý thức cách mạng. Xuất phát từ tinh thần này, ý chí tìm đường làm cách mạng được nung nấu trong người thanh niên, với mục tiêu cao cả là đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng đất nước, mang lại độc lập, tự do cho dân tộc. Mặc dù rất khâm phục ý chí và những nghĩa cử cao đẹp của các vị cách mạng tiền bối đã dành cho quê hương, đất nước, nhưng Người không tán thành chủ trương, đường lối cách mạng và quan điểm của họ về vấn đề thành lập chính quyền nhà nước... Nhiều bằng chứng lịch sử cho thấy, vào thời điểm đó, ở Nguyễn Tất Thành đã nhen nhóm tư tưởng về việc gây dựng, tạo lập một nhà nước độc lập, một nhà nước có chủ quyền, như có lần Người trả lời phỏng vấn của tờ Tạp chí “Ngọn lửa nhỏ” của Liên Xô năm 1923: “Vào trạc tuổi 13, lần đầu tên tôi đã được nghe những từ ngữ tiếng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái... thế là tôi đã muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn sau những từ ấy"(1). Với bầu nhiệt huyết cháy bỏng lòng yêu nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành, bằng tên thường gọi là Văn Ba, từ tháng 6-1911, đã xuống tầu, rời quê hương, bước vào cuộc hành trình khắp năm châu, bốn bể với mong muốn tìm ra phương cách giải phóng đất nước thoát khỏi ách nô lệ của chế độ thực dân. Trong thời gian lưu trú tại Pháp, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tiếp thu những lý tưởng nhân quyền, dân quyền và pháp quyền của các nhà khai sáng Pháp... Với những tư tưởng tiến bộ tiếp thu được, hơn ba mươi năm sau, Người trở về và mang những tư tưởng đó triển khai trên mảnh đất quê hương - một mảnh đất thân yêu suốt bao năm trường là thuộc địa của thực dân Pháp.

Trên cơ sở lập trường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã lên án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương, phủ nhận sự tồn tại của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam. Với nhận thức đầy đủ về lý luận cách mạng của mình, Người xác định phải lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp, cũng như chế độ phong kiến và bè lũ tay sai, phản động để thiết lập một nhà nước mới - một nhà nước dân chủ thực sự, đem lại lợi ích cho đa số nhân dân lao động. Bằng nhãn quan chính trị của mình, Người khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có Cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật,... Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải lấy dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin"(2).

Đúc kết những nguyên lý và kinh nghiệm về cách mạng vô sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phác thảo ra mô hình tổ chức, quản lý của nhà nước và xã hội kiểu mới, trong đó Đảng Cộng sản cầm quyền tổ chức ra chính phủ công, nông, binh, phát ruộng đất cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền... ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, với những kinh nghiệm đã tích lũy được trong suốt hơn ba mươi năm ở nước ngoài, ngay từ những ngày đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một cách dân chủ, hợp pháp, hợp hiến và coi trọng tính hiệu lực, hiệu quả của nó. Người quan tâm hoàn thiện cả hai mặt cấu thành quan trọng của nhà nước: nhanh chóng tổ chức các thiết chế của bộ máy nhà nước và ban hành các thể chế (hiến pháp và pháp luật) tạo cơ sở pháp lý và khoa học để tổ chức một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Đó là một nhà nước có cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động thích hợp với xu thế thời đại và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam đương thời.

Trong bối cảnh cực kỳ khó khăn, phức tạp của những ngày mới giành được chính quyền, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, ngày 03-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân, trai cũng như gái, từ mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống. Và “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà... Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”(3). Đây chính là tuyên bố lập hiến đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và việc thành lập bộ máy nhà nước do dân cử bằng hình thức phổ thông đầu phiếu cũng là sự kiện đầu tiên xuất hiện trong lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Qua thực tiễn hoạt động cách mạng trong phong trào cộng sản quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu các bản Hiến pháp năm 1924 và Hiến pháp năm 1936 của Liên Xô, Người nhận thấy Nhà nước Xô-viết, về bản chất, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, là mẫu hình của Nhà nước Việt Nam mới cần xây dựng. Nhưng trong việc tổ chức Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đã vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.

Hiếp pháp năm 1946 được soạn thảo và ban hành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điểm đặc biệt, đáng chú ý là bản Hiến pháp này không hoàn toàn theo nguyên mẫu một mô hình tổ chức bộ máy nhà nước nào trên thế giới, mà áp dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản về phân công quyền lực, ở khía cạnh kỹ thuật tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, trong đó bao hàm cả cơ chế kiềm chế quyền lực. Theo đó, Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều 22 Hiến pháp năm 1946 ghi: “Nghị viện đặt ra các pháp luật (tức quyền lập pháp), biểu quyết ngân sách, những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, khi Nghị viện không họp, Ban Thường vụ có quyền biểu quyết những dự án sắc luật của Chính phủ”.

Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc. “Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Chủ tịch nước. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng” (Điều 44).

Về cơ quan tư pháp, tòa án các cấp được lập ra theo thẩm quyền xét xử như: Tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp (Điều 63). Đồng thời, Hiến pháp quy định về mặt nhân sự: thẩm phán được Chính phủ bổ nhiệm.

Cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước được Hiến pháp năm 1946 quy định khá cụ thể, rõ ràng. Ví dụ: quyền “biểu quyết những dự án sắc luật của Chính phủ, kiểm soát và phê bình Chính phủ” của Ban Thường vụ Nghị viện (Điều 63), hoặc “Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước Việt Nam phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri. Nhưng trong thời hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại. Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng thuận thì bắt buộc Chủ tịch phải ban bố” (Điều 31). Đây là điểm tương đồng của Hiến pháp năm 1946 với Hiến pháp của Mỹ năm 1787 (Điều 1, khoản 7, đoạn 2)(4).

Về phương diện chính trị - pháp lý, Hiến pháp năm 1946 khẳng định, đất nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể phân chia, nhưng về hành chính, nước Việt Nam “gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã” (Điều 57).

Ở cấp địa phương có hội đồng nhân dân; hội đồng nhân dân có quyền quyết nghị “những vấn đề thuộc địa phương mình” miễn là “những nghị quyết ấy không trái với chỉ thị của cấp trên” (Điều 59). Ủy ban hành chính do hội đồng nhân dân bầu ra có trách nhiệm thi hành các mệnh lệnh của cấp trên và các nghị quyết của hội đồng nhân dân, chỉ huy các công việc hành chính trong địa phương (Điều 60). Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã và xã do đầu phiếu phổ thông và trực tiếp bầu ra; Ủy ban hành chính ở những cấp này do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu. Ủy ban hành chính bộ do hội đồng nhân dân các tỉnh và thành phố bầu ra. Ủy ban hành chính huyện do hội đồng nhân dân các xã bầu ra (Điều 58).

Trong việc tổ chức chính quyền địa phương, Sắc lệnh số 63, ngày 22-11-1945, về tổ chức chính quyền nông thôn, Sắc lệnh số 77, ngày 21-12-1945, về tổ chức chính quyền đô thị của Chính phủ và tiếp đó là Hiến pháp năm 1946 đều có sự phân biệt giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn.

Như vậy, ngay từ những ngày đầu giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng nhiều nhà trí thức, đã nghiên cứu, xây dựng bộ máy nhà nước Việt Nam theo mô hình một nhà nước hiện đại, trên cơ sở kế thừa những thành tựu về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của các quốc gia có nền khoa học pháp lý phát triển. Về vấn đề này, Người từng viết: “phải tham khảo Hiến pháp của các nước bạn và của một số nước tư bản có tính chất điển hình”(5) để tổ chức một bộ máy nhà nước phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Nhà nước đó do nhân dân lập ra, để phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động và được thiết kế dựa trên nguyên tắc có sự phân công và phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước này là mô hình nhà nước tiến bộ đầu tiên ở một nước vốn là thuộc địa, vừa thoát khỏi ách đô hộ của thực dân. Với một mô hình tổ chức nhà nước hiện đại như vậy, hoạt động của bộ máy chính quyền cách mạng sẽ mang lại tự do, dân chủ, cơm no, áo ấm cho nhân dân. Nhưng chỉ một thời gian sau đó, Nhà nước dân chủ nhân dân mới được thành lập này lại rơi vào tình thế phải chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước trong Hiến pháp năm 1946 là những giá trị pháp lý được Đảng và Nhà nước ta vận dụng, kế thừa để đưa vào Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Hiến pháp năm 2013. Điều đó cho thấy Hiến pháp năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiên cứu, chỉ đạo ban hành không chỉ có giá trị, ý nghĩa lịch sử, mà bản Hiến pháp này còn có những giá trị về tư tưởng lập pháp đương đại.

Nhìn lại lịch sử giai đoạn này, có thể thấy, chính quyền cách mạng mới thành lập nhưng ngay sau đó lại rơi vào tình thế hết sức khó khăn, "ngàn cân treo sợi tóc". Nhưng với những chiến lược, sách lược hợp lý, Nhà nước Việt Nam non trẻ đã từng bước thoát khỏi khó khăn, vượt qua thử thách để tạo lập một vị thế vững vàng. Qua đây, chúng ta có thể thấy rõ tài năng lãnh đạo, tổ chức thiết kế, xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cơ cấu tổ chức thực hiện quyền lực và phương thức hoạt động hợp lý, bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu thực tế. Ngày nay, đứng trên quan điểm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình nhà nước kiểu mới - Nhà nước pháp quyền Việt Nam - chính là nội dung cốt lõi trong tư tưởng của Người về nhà nước và pháp luật. Đó là một nhà nước có sức mạnh, một nhà nước trong sạch, sáng suốt của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đây là tiền đề quan trọng trong suốt quá trình củng cố, hoàn thiện bộ máy nhà nước, đáp ứng nhiệm vụ tổ chức toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp và đánh đuổi những kẻ thù xâm lược tiếp sau đó, cũng như trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay./.

------------------------------------------

(1) E. Cô-bê-lép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 50

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 2, tr. 280

(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 4, tr. 133

(4) Nguyễn Cảnh Bình: Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?, Nxb. Lý luận Chính trị, 2005, tr. 562

(5) Hồ Chí Minh: Nhà nước và pháp luật, Nxb. Pháp lý, Hà Nội, 1985, tr. 248

TS. Nguyễn Thế Thuấn - Giám đốc Trung tâm thông tin khoa học, Học viện Chính trị khu vực I
Các tin khác
Xem tin theo ngày